Da thuộc và tính chất các loại da

    Kế tiếpLùi lại
    auryvietnam-da-thuoc-va-tinh-chat-cac-loai-da

    Da thuộc và tính chất các loại da

    auryvietnam-da-thuoc-va-tinh-chat-cac-loai-da1

    Da thuộc là từ để chỉ nguyên liệu được làm từ da động vật như da bò, da dê, da trâu, da cừu hay da cá sấu, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là da bò …, đã trải qua quá trình xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau, đó gọi là thuộc da. Da thuộc từ trước đến nay vẫn luôn được xem là loại vật liệu dùng để sản xuất các loại túi xách, ví,  thắt lưng cao cấp và sang trọng . Da thuộc có đặc tính mềm, dẻo dai và đặc biệt rất bền. Da thuộc có độ bền cao gấp nhiều lần so với các loại vật liệu  giả da khác. Đặc biệt hơn, da có thể “thở”. Điều này có nghĩa là da có thể điều tiết nhiệt độ theo thời tiết bên ngoài nên sẽ  mát vào mùa hè và ấm vào  mùa đông.

    Da thuộc có thể được chia làm các loại như sau:

    Da thuộc nguyên miếng (Da top-grain)

    Một tấm da thuộc có độ dày tùy thuộc vào tuổi và loại động vật được lấy da để thuộc. Lớp da dày này có thể tách ra làm nhiều lớp. Da top-grain là lớp trên cùng của bộ da.

    Lớp trên cùng này dày khoảng 1.0 -1.5 mm và cũng là phần tốt và đẹp nhất của tấm da. Da top-grain được chia làm hai loại: Da nguyên trạng (full grain) và da điều chỉnh (corrected grain). Da nguyên trạng là da được giữ nguyên trạng thái tự nhiên, không điều chỉnh hạt da, thậm chí vẫn giữ nguyên cả màu sắc. Trong khi đó, da điều chỉnh được tác động lên bề mặt để làm giảm các vết xước và tạo các hiệu ứng vân cho da. Hầu hết các khách hàng ưa chuộng da điều chỉnh bởi bề mặt da  có lớp bảo vệ giúp ngăn cho da không bị thấm nước và chống trầy xước trong khi da nguyên trạng không có. Da nguyên miếng có đặc tính rất bền, không bị bong tróc  trong quá trình sử dụng, càng dùng lâu, da sẽ càng mềm mại hơn. Khi sử dụng quý khách nên lưu ý tránh để bề mặt da bị ma sát nhiều, đặc biệt ở các góc túi, ví để đảm bảo độ bền đẹp của sản phẩm.

    auryvietnam-da-thuoc-va-tinh-chat-cac-loai-da2

    Da thuộc tách lớp và phủ bề mặt

    Da tách lớp là lớp dưới của bộ da sau khi đã lấy đi phần da trên cùng, không có độ nhẵn. Do đó, nó có thể được xử lý thành da lộn hoặc da tách lớp  và phủ bề mặt. Da tách lớp và phủ bề mặt (coated split) thường cứng và kém bền hơn da top-grain. Do lớp da thật bên trong và lớp phủ nhân tạo bên ngoài có độ  giãn nở khác nhau, nên trong điều kiện thời tiết nóng ẩm như ở Việt Nam, da vẫn có thể bị bong tróc, gãy nếp sau một thời gian sử dụng nhất định. Độ bền của da tách lớp phụ thuộc nhiều vào chất lượng của lớp phủ nhân tạo trên bề mặt da, điều này bằng mắt thường rất khó đánh giá. Tuy nhiên ưu điểm của da tách lớp và phủ bề mặt là có thể tạo nên những tấm da có độ cứng nhất định, phù hợp để  sản xuất các loại túi xách, ví có dáng cứng, hình hộp rất thời trang – Điều mà da nguyên miếng rất khó làm được (vì da nguyên miếng càng dùng sẽ càng mềm, và nếu để lớp da nguyên miếng thật dày cho có độ cứng cần thiết thì túi/ví lại quá nặng, không tiện sử dụng).

    Da tách lớp và phủ bề mặt vẫn có thể tạo ra vân da gần giống như da thật nguyên miếng, tuy nhiên khi nhìn mặt cắt của da có thể thấy lớp da không đồng nhất (tách làm hai lớp), chất da cứng hơn, bề mặt da không có các lỗ chân lông như da nguyên miếng, hoặc nếu có thì là do  tự tạo nên, vì thế mặt da rất đồng đều không tự nhiên, khi bấm vào bề mặt da thì độ đàn hồi của da kém hơn.

    Da là sản phẩm tự nhiên, không phải là vật liệu nhựa hay vinyl, nên có những khác biệt về màu sắc. Ngay trên cùng một tấm da cũng có thể có sự khác biệt về cảm giác giữa các vị trí. Sự khác biệt này không phải là lỗi sản xuất. Đây là đặc tính tự nhiên của da thật 100%. Những dấu hiệu tự nhiên như vậy cũng chính là lý do khiến da trở nên được yêu thích. Cũng giống như da của bạn có sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác, da bò cũng vậy.
    Cho dù da là một sản phẩm rất bền chắc, nhưng nó vẫn cần có sự chăm sóc và bảo quản cẩn thận. Nếu đặt da dưới ánh nắng mặt trời lâu ngày nó có thể bị phai màu, dù đó là loại da hay  vải tốt đi chăng nữa. Ngoài ra, cũng nên tránh đặt da gần nguồn nhiệt nóng vì điều đó sẽ làm khô da gây nên nứt gãy, tránh để các vật nhọn trên da và hạn chế sử dụng hóa chất đánh bóng hay xà phòng.

    auryvietnam-da-thuoc-va-tinh-chat-cac-loai-da3

    Cách Phân Biệt Da Thuộc

    Với những ưu điểm như bền, đẹp, độ đàn hồi tốt … những sản phẩm thuộc da luôn là sự quan tâm của những người yêu thời trang. Vậy làm sao để biết được đó là da thuộc, hay  giả da? Dưới đây là  một số bí quyết giúp bạn phân biệt các loại da:
    1. Da lợn: Lỗ chân lông hiện ra trên bề mặt tròn và thô, hơi nghiêng, cứ ba lỗ chụm lại với nhau. Trên mặt thấy khá nhiều những hình tam giác nhỏ, sờ tay vào thấy cứng, phẳng, thường dùng để làm giày dép da, vali và túi.
    2. Da bò/ trâu: Da bò có lỗ chân lông hình tròn,  không khít lại với nhau và phân bố đều. Còn da trâu thì lỗ chân lông to hơn, số lỗ ít hơn, mềm nhão hơn da bò, trông không được mịn và đẹp như da bò. Hai loại này thường được dùng làm giày, dép da …
    3. Da ngựa: Lỗ chân lông có hình bầu dục, không rõ ràng, to hơn lỗ chân lông của da bò, sắp xếp có quy tắc, trên mặt xốp mềm, tối màu, thường dùng để làm vali, túi.
    4. Da dê (sơn dương): Trên mặt da có những đường vân hình vòng cung mà trên đó có 2-4 lỗ chân lông to, xung quanh có những lỗ nhỏ. Mặt da trông mịn, thớ chặt, sờ vào thấy dẻo, thường dùng  để làm bao tay, túi xách, đồ mặc đi săn.
    5. Da cừu: Mỏng, mềm, lỗ chân lông nhỏ li ti và có hình bầu dục, cứ mấy lỗ kết hợp với nhau thành hàng dài, phân bố đều khắp, thường dùng làm túi xách.

    Cách phân biệt da thật, giả da

    – Chất liệu giả da thông thường có hai loại chính: simili và PU. Với simili, bạn có thể dễ dàng nhận biết bởi chất liệu này giá rẻ, cứng, được phủ một lớp polyester trên bề mặt nên rất bóng, thường được may làm hàng chợ. Riêng PU thì dễ gây nhầm lẫn hơn, bởi đây là chất liệu giả da cao cấp, mềm mại gần giống da thật. Tuy nhiên, bản chất PU vẫn là dạng hợp chất tổng hợp nhân tạo nên có thể bong tróc theo thời gian.

    – Da thật có mùi ngai ngái, còn da giả thì có mùi ni lông hoặc có mùi của chất hóa học (giống mùi nhựa hoặc mùi sơn, xăng thơm).

    – Khi hơ lửa sản phẩm da: Nếu là da thật miếng da bị cháy xém và có mùi khét của hợp chất hữu cơ (mùi giống thịt nướng), còn giả da thì có mùi nhựa cháy.

    – Nhỏ một vài giọt nước lên bề mặt da. Nếu là da thật thì sau một vài phút, bạn sẽ thấy vệt nước lan rộng ra, thấm vào da. Da thật luôn hấp thu độ ẩm còn giả da thì không.

    – Quan sát bằng mắt: bề mặt da thật hơi ráp, có các đường vân của da rất tự nhiên, hoặc có những vết lồi lõm, tùy theo kỹ thuật thuộc và gia công mà bề mặt da sẽ có độ phẳng, mềm… tuy nhiên vẫn còn để lại dấu vết gồ ghề tương đối. Trên bề mặt da thật, nhìn kỹ sẽ có những lỗ chân lông nhỏ, có thể nhìn thấy bằng  mắt thường. Bề mặt da thật không có vết nứt hay vết rạn như da giả. Còn bề mặt da giả thường sẽ láng, trơn tru và bằng phẳng.

    – Khi dùng ngón tay ấn mạnh lên bề mặt da nếu là da thật sẽ để lại vết lõm. Còn với da giả và các chất liệu tổng hợp sẽ không thể có được độ đàn hồi này.

    – Da thật để một thời gian, màu sẽ bớt đi độ tươi, hơi xỉn. Khi đó, bạn lau sạch và thoa lên một ít kem dưỡng da hoặc xi không màu thì bề mặt sản phẩm da thật sẽ tươi màu và mềm mại ngay. Da giả ít thay đổi màu sắc hoặc ko bị tác động nhiều bởi các loại xi hay kem dưỡng da.

    – Các sản phẩm da thật nhất là túi xách da bò lúc mới thì cứng, nhưng càng dùng càng mềm. Còn sản phẩm da giả thì sẽ rất nhanh bị khô, rạn nứt.

    – Da thật khi chưa thành phẩm thường có kích thước và hình dáng tuỳ theo từng loài động vật và không vuông vức, da giả thường có kích thước tấm da rất lớn và vuông vức.

    – Mặt trong của ví da thật hầu như để trần, còn da giả thì có miếng lót, có lớp giấy bìa định hình. Các sản phẩm giả da thường được lót vải hoặc có dạng chỉ đan xen nhau được ép ở mặt sau của da.

    Ghi chú: Đối với một số loại da, hiện nay với kỹ thuật thuộc da cao, các sản phẩm da có thể có những đặc tính khác trên.
    Ví dụ:

    – Đối với loại da sơn – bề mặt da được phủ một lớp sơn (lớp sơn này rất bền và không bị bong tróc theo thời gian), khi đốt lên có thể có mùi khét của hóa chất (sơn), khi gạch nhẹ thì da không bị xước và ít bị thấm nước.

    – Đối với da sáp hoặc da dầu, bề mặt ngoài của da được phủ một lớp sáp/ dầu để bảo vệ da (dưỡng da) giúp da luôn ẩm và không bị khô ráp. Loại da này rất dễ bị trầy xước, tuy nhiên vết trầy sẽ mất hẳn  khi dùng xi hoặc kem dưỡng da đánh đều.

    Nguồn: vattudagiay.vn

    Kế tiếpLùi lại